• Toàn thể CBCNV Tập đoàn Điện lực Việt Nam quyết tâm thực hiện thành công Chủ đề năm 2020 "Tập trung hoàn thành toàn diện Kế hoạch 05 năm 2016 - 2020"  Chào mừng Đại hội Đảng và Đại hội Thi đua yêu nước các cấp.                                                                 Nhiệt liệt chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 !                                              

Bảo hiểm thất nghiệp

Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 9 ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành đối với phần bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 01/01/2009. Ngày 12/12/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 127/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp. Ngày 22/01/2009, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 04/2009/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP

1. Đóng bảo hiểm thất nghiệp

          - Người sử dụng lao động có sử dụng từ mười lao động trở lên phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động.

- Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng mức bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người tham gia bảo hiểm thất nghiệp và trích 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của từng người lao động để đóng cùng một lúc vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

          - Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương theo ngạch, bậc và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có). Tiền lương này được tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung tại thời điểm đóng bảo hiểm thất nghiệp.

- Người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

- Trường hợp người lao động có mức tiền lương, tiền công tháng cao hơn 20 tháng lương tối thiểu chung thì mức tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng 20 tháng lương tối thiểu chung (hiện nay là 650.000 đồng/tháng; tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp tối đa bằng 13.000.000 đồng/tháng).

          Ví dụ: Ông Nguyễn Văn An tại thời điểm tháng 10/2009 có mức lương 15.300.000 đồng/tháng. Trường hợp này, tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của ông A là 13.000.000 đồng/tháng.

          2. Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp:

- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong vòng hai mươi bốn tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

- Đã đăng ký với cơ quan lao động khi bị mất việc làm, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

- Chưa tìm được việc làm sau mười năm ngày kể từ ngày đăng ký với cơ quan lao động.

3. Các chế độ bảo hiểm thất nghiệp

          Theo quy định tại các Điều 82, 83, 84, 85 Luật Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp gồm có các chế độ sau:

          - Trợ cấp thất nghiệp;

          - Hỗ trợ học nghề;

          - Hỗ trợ tìm việc làm;

          - Chế độ bảo hiểm y tế.

          4. Hưởng trợ cấp thấp nghiệp

          * Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp:

- Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức. 

- Trường hợp những tháng cuối cùng trước khi thất nghiệp, người lao động có thời gian gián đoạn đóng bảo hiểm thất nghiệp do không thuộc đối tượng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định thì sáu tháng liền kề để tính mức trợ cấp thất nghiệp là bình quân của sáu tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi người lao động mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

Ví dụ: Ông Lê Văn Ba đóng bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 01/01/2009 đến ngày 14/01/2012 và có 2 tháng (tháng 10 và tháng 11 năm 2011) không đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định; tháng 01/2012 bị chấm dứt hợp đồng lao động, các tháng liền kề trước khi thất nghiệp có mức lương đóng bảo hiểm thất nghiệp như sau: Tháng 5/2011: 2.450.000 đồng; tháng 6/2011: 2.750.000 đồng; tháng 7/2011: 2.750.000 đồng; tháng 8/2011: 2.950.000 đồng; tháng 9/2011: 2.800.000 đồng và tháng 12/2011: 2.650.000 đồng. Như vậy, nếu ông B đủ điều kiện để hưởng trợ cấp thất nghiệp thì mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng được tính như sau:

- Mức tiền lương bình quân của 6 tháng liền kề là: (2.450.000 + 2.750.000 + 2.750.000 + 2.950.000 + 2.800.000 + 2.650.000) : 6 = 2.725.000 đồng/tháng.

- Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng ông Lê Văn Ba được nhận là: 2.725.000 đồng/tháng x 60% = 1.635.000 đồng/tháng.

* Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp:

Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng phụ thuộc vào thời gian làm việc có đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động và tổng thời gian tối đa được hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng được thực hiện như sau:

- Ba (03) tháng, nếu có từ đủ mười hai (12) tháng đến dưới ba mươi sáu (36) tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Ví dụ: Bà Phạm Thị Bé đã đóng bảo hiểm thất nghiệp được 13 tháng trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm thi thời gian tối đa hưởng trợ cấp thất nghiệp là 3 tháng.

          - Sáu (06) tháng, nếu có từ đủ ba mươi sáu (36) tháng đến dưới bảy mươi hai (72) tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

          Ví dụ: Ông Phạm Thanh Bình đã đóng bảo hiểm thất nghiệp được 71 tháng và đã đóng bảo hiểm thất nghiệp ít nhất đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm thì thời gian tối đa hưởng trợ cấp thất nghiệp là 6 tháng.

          - Chín (09) tháng, nếu có từ đủ bảy mươi hai (72) tháng đến dưới một trăm bốn mươi bốn (144) tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

          Ví dụ: Ông Nguyễn Văn Hưng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp được 80 tháng và đã đóng bảo hiểm thất nghiệp ít nhất đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm thì thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp là 9 tháng.

          - Mười hai (12) tháng, nếu có từ đủ một trăm bốn mươi bốn (144) tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên.

          Ví dụ: Ông Trần Thanh Tùng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp được 145 tháng và đã đóng bảo hiểm thất nghiệp ít nhất đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm thì thời gian tối đa hưởng trợ cấp thất nghiệp là 12 tháng.

          5. Thời gian tính trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm

          - Khoản 6 Điều 139 Luật Bảo hiểm xã hội quy định: Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức.

- Thời gian người lao động thực tế làm việc theo các bản hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với người sử dụng lao động mà không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp thì được tính để xét hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật lao động hiện hành hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

          - Theo quy định tại Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ Lao đông, Thương binh và Xã hội thì tiền trợ cấp thôi việc phụ thuộc vào tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc.

          Quy định về tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc đã thay đổi so với Thông tư số 21, được xác định theo khoản 3, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ, trừ thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ. Trường hợp, tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc có tháng lẻ thì được làm tròn như sau:

          + Từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng làm tròn thành ½ năm.

          + Từ đủ 06 tháng đến dưới 12 tháng làm tròn thành 01 năm.

          Như vậy, nếu đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp, khi chấm dứt hợp đồng lao động, thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp không được tính vào thời gian hưởng trợ cấp thôi việc theo Điều 42 Bộ luật Lao động và trợ cấp mất việc làm theo Điều 17 Bộ luật Lao động.

  • 09/10/2009 02:15
  • Theo: